Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cho rau quả Việt Nam, giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.
Thêm một hướng đi mới
Thị trường EFTA (Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein) không phải là điểm đến lớn của rau quả Việt Nam, nhưng lại được đánh giá là nhóm thị trường có sức mua cao, ổn định và phù hợp với các sản phẩm chất lượng. Việc hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam-EFTA được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa để ngành rau quả mở rộng đầu ra, từng bước giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.'
Theo bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia, ý nghĩa của FTA không chỉ dừng ở việc cắt giảm thuế quan mà còn thể hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đa dạng hóa thị trường và đối tác, đồng thời nâng tầm quan hệ thương mại với nhóm nền kinh tế phát triển.
Theo số liệu của EFTA, thương mại song phương giữa Việt Nam và khối này năm 2025 đạt khoảng 4,8 tỷ EUR, không tính thương mại vàng của Thụy Sĩ. Trong đó, Việt Nam xuất siêu khoảng 2,5 tỷ EUR. Kết quả này cho thấy quan hệ thương mại giữa hai bên đã có nền tảng nhất định trước khi hiệp định được đưa vào thực thi.
Đối với ngành rau quả, quy mô xuất khẩu sang EFTA hiện chưa lớn nhưng đã ghi nhận tín hiệu tăng trưởng. Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, năm 2025, xuất khẩu rau quả sang Na Uy đạt khoảng 4,42 triệu USD, trong khi Thụy Sĩ đạt khoảng 3,42 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang cả hai thị trường đều tiếp tục tăng, trong đó Na Uy đạt gần 2,47 triệu USD, tăng khoảng 36,6% so với cùng kỳ năm trước; Thụy Sĩ đạt khoảng 1,86 triệu USD, tăng khoảng 7,6%.
Theo bà Thúy, đây là nền tảng thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục mở rộng hiện diện tại khu vực này khi hiệp định chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên, FTA chỉ tạo ra khuôn khổ thuận lợi, còn khả năng chuyển hóa ưu đãi thành đơn hàng và thị phần phụ thuộc vào sự chuẩn bị của từng doanh nghiệp.
Tham tán cho rằng Na Uy và Iceland còn có thể trở thành những điểm kết nối để hàng hóa Việt Nam tiếp cận sâu hơn thị trường châu Âu. Do đó, giá trị của FTA không chỉ nằm ở quy mô xuất khẩu trực tiếp sang 4 nước EFTA mà còn ở khả năng mở rộng mạng lưới phân phối, tìm kiếm đối tác và nâng cao vị thế của sản phẩm Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực.
Để tận dụng hiệp định, doanh nghiệp cần chủ động đáp ứng các quy tắc xuất xứ, các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật, các quy định kỹ thuật, sở hữu trí tuệ và các yêu cầu về phát triển bền vững. Đây vừa là điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế quan, vừa là cơ sở để hàng hóa duy trì vị thế lâu dài trên các thị trường phát triển.
Tận dụng lợi thế sẵn có
Ở góc độ ngành hàng, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng việc nhiều dòng thuế được cắt giảm sẽ tạo thêm thuận lợi để rau quả Việt Nam tiếp cận các thị trường EFTA. Tuy nhiên, không phải mọi mặt hàng đều có cơ hội như nhau. Khả năng tận dụng hiệp định còn phụ thuộc vào đặc tính sản phẩm, thời gian bảo quản, phương thức vận chuyển và nhu cầu của từng thị trường.
Theo ông Nguyên, hiện rau quả Việt Nam xuất khẩu sang Na Uy và Thụy Sỹ chủ yếu bằng đường hàng không. Nếu vận chuyển bằng đường biển, hàng hóa thường phải trung chuyển qua Hà Lan hoặc Đức trước khi đến thị trường đích, làm gia tăng thời gian và chi phí logistics.
"Những mặt hàng có thời gian bảo quản dài như dừa, bưởi sẽ có nhiều lợi thế hơn khi xuất khẩu sang Na Uy và Thụy Sĩ. Trong khi đó, các doanh nghiệp đã xuất khẩu ổn định vào thị trường EU cũng có thuận lợi nhất định bởi tiêu chuẩn của hai thị trường này về cơ bản tương đồng với EU," ông Đặng Phúc Nguyên nhận định.
Thực tế tại doanh nghiệp cũng cho thấy lợi thế từ FTA sẽ rõ nét hơn đối với nhóm sản phẩm chế biến. Ông Lê Quang Nguôn - Giám đốc Công ty TNHH Green Powers - doanh nghiệp xuất khẩu bưởi, dừa, sầu riêng sang các thị trường châu Âu, Nhật Bản và Trung Đông, cho biết, từ đầu năm đến nay đơn hàng của doanh nghiệp tăng so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, với trái cây tươi, bài toán logistics vẫn chưa có nhiều thay đổi. "Thời gian vận chuyển vẫn là vấn đề lớn nhất đối với hàng trái cây tươi. Nếu hành trình tàu kéo dài, việc bảo đảm chất lượng sản phẩm sẽ gặp nhiều khó khăn," ông Lê Quang Nguôn chia sẻ.
Theo ông Nguôn, vì vậy, để tận dụng hiệu quả các ưu đãi từ FTA, cùng với lợi thế về thuế quan, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng chi phí và thời gian logistics tiếp tục được cải thiện nhằm nâng cao sức cạnh tranh của rau quả Việt Nam tại các thị trường EFTA.
Khi FTA Việt Nam - EFTA có hiệu lực, các ưu đãi thuế quan sẽ tạo thêm lợi thế cạnh tranh, đặc biệt đối với các sản phẩm chế biến. Dù quy mô chưa lớn, đây là nhóm thị trường có sức mua tốt, ổn định và phù hợp với định hướng nâng cao giá trị gia tăng thay vì chỉ mở rộng sản lượng xuất khẩu.
Nguồn:https://nongnghiepmoitruong.vn